This is default featured slide 1 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 2 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 3 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 4 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 5 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

Chủ Nhật, 31 tháng 12, 2000

Nên ăn bao nhiêu thịt mỗi ngày?

(suckhoedoisong.vn) - Tôi 40 tuổi, hàng ngày tôi rất thích ăn thịt bò, thịt lợn, chó…,nhưng tôi lại nghe nói ăn nhiều thịt đỏ dễ sinh nhiều bệnh. Vậy xin quý báo tư vấn giúp ăn bao nhiêu là tốt cho sức khỏe?.

Nguyễn Toàn (Cao Bằng)

Ăn quá nhiều thịt đỏ có thể làm gia tăng nguy cơ mắc các bệnh như: ung thư, đái tháo đường, cholesterol, thừa cân… Vậy, ăn bao nhiêu thịt đỏ để đảm bảo dinh dưỡng mà không gây nguy hiểm.Theo các nhà nghiên cứu dinh dưỡng, một người thường xuyên ăn trên 160g thịt đỏ mỗi ngày có nguy cơ bị ung thư đường ruột cao hơn 33% so với một người chỉ ăn dưới 20g thịt đỏ mỗi ngày.

Ảnh minh họa (nguồn Internet)
Vì sắt và các chất bảo quản có trong thịt tươi hay đã qua chế biến làm tăng thành phần nitro, các mầm mống gây ung thư trong hệ thống tiêu hóa. Các chuyên gia khuyên ở một người bình thường không nên ăn quá 300 - 500g thịt đỏ (bò, lợn, bê...) mỗi tuần. Thay vì ăn thịt đỏ, hãy ăn nhiều cá và thịt gia cầm. Lý tưởng nhất là ăn 2 lần/tuần (khẩu phần mỗi lần ăn từ 100 - 150g).

Cách chế biến cũng rất quan trọng, tránh nước sốt quá béo cũng như món thịt nướng bằng than hay bằng lò nướng. Tốt hơn hết là luộc thịt, hầm thịt.

Bác sĩ Nguyễn Thu Hà

Cà chua hỗ trợ giải độc cơ thể

Các chất chống ôxy hóa trong lycopen giúp bảo vệ gan khỏi tác hại của gốc tự do. Điều này cho phép gan hoạt động tối ưu, chuyển hóa và loại bỏ độc tố khỏi cơ thể. Các chuyên gia chống lão hóa tin rằng lycopen là cần thiết để duy trì sức khỏe tốt khi chúng ta già đi. Nó tăng cường hệ thống miễn dịch và cho thấy còn thể hiện hiệu quả chống ung thư.

ca chua

Mặc dù ăn cà chua tươi là rất tốt, nước sốt cà chua chứa nhiều hơn các sắc tố lycopen, nhưng khi nấu chín cà chua tạo ra nhiều lycopen có sẵn, mặc dù được đun ở nhiệt độ cao cũng không làm thay đổi tính chất có lợi sức khỏe của lycopen.

Người dân ở Rochester Hills, Michigan và các nơi khác đã bắt đầu giải độc và nâng cao sức khỏe của mình bằng cách thêm cà chua tươi và các sản phẩm cà chua vào chế độ ăn hàng ngày của họ đã được chứng minh là để giải độc cơ thể và bảo vệ chống lại ung thư vú, da và phổi. Nên ăn 1-2 trái cà chua khi đang tươi hàng ngày.

TS.BS. Lê Thanh Hải

((Theo Wallerwellness, 8/2016))

Giữ mãi tuổi thanh xuân với quả dâu ta

Công dụng và cách dùng quả dâu chín

Bổ can thận, ích tâm huyết, thính tai, sáng mắt, đen râu tóc, lợi xương khớp: rượu tang thậm (tang thậm tửu). Quả dâu chín 5kg. Gạo nếp 6kg. Men rượu vừa đủ. Quả dâu phải chín đều, ép lấy nước, đun sôi để nguội cho cùng cơm nếp men rượu trộn đều cho vào bình ngâm. Ngày uống mỗi lần 30-50ml. Nếu cho vào rượu dâu thêm mật ong, rượu sẽ ngon bổ hơn.

Dưỡng huyết: Quả dâu tươi chín 50g. Đường phèn vừa đủ. Quả dâu rửa sạch cho vào nồi đất cho nước vừa đủ sắc lấy nước hòa đường phèn để uống. Có thể uống thường xuyên, nhất là về mùa hè. Nếu không có đường phèn có thể dùng đường hoa mơ hoặc đường trắng.

Quả dâu ta

Tóc khô gãy, rụng, chóng bạc: Quả dâu 1kg, rượu 0,5 lít ngâm 3 ngày. Uống ngày 2 lần vào 2 bữa cơm. Mỗi lần 20ml.

Quả dâu, sinh địa, mỗi thứ 30g. Đường trắng 15g. Giã nát sắc uống chia 10 lần.

Chống lão hóa: Nhức mỏi cơ xương khớp, đau lưng gối, hoa mắt, ù tai, chóng mặt, táo bón, kém ăn, yếu sức, đoản hơi, tóc râu khô bạc, rụng, hay quên, lẫn. Nên sách cổ gọi quả dâu là quả trường thọ.

- Cháo quả dâu: Quả dâu chín 40g, gạo 50g. Đường phèn vừa đủ. Nấu cháo lỏng ăn buổi sáng (lúc chưa ăn gì, bụng đói) rất tốt đối với người già, yếu, ốm dậy.

- Bánh mè quả dâu: Quả dâu 30g, vừng đen 60g, bột nếp 700g, hạt đay 10g, đường trắng 30g. Làm bánh hấp chín ăn.

Mất ngủ cấp tính: Quả dâu tươi 60g (khô 30g) sắc uống 2 lần/ngày vào chiều tối.

Mất ngủ kinh niên: Quả dâu 15g, thục địa 15g, bạch thược 15g, sắc uống ngày 1 thang.

Các chứng bệnh sau đẻ (hậu sản do âm huyết kém, ho, sốt): dâu, long nhãn, đảng sâm, mỗi thứ 30g nghiền nát. Uống mỗi lần 2-3g với nước đun sôi để nguội, ngày 3 lần.

Hồi hộp, tim đập nhanh, đau tức ngực: Quả dâu 30g, ngân nhĩ 20g, ô mai 3g. Sắc kỹ uống ngày 2 lần.

Ho lâu ngày do phế hư: Quả dâu 150g, lá dâu 100g, vừng đen 100g, cô cao lỏng thêm 500g đường. Uống ngày 3 lần, mỗi lần 15g (1 thìa con).

Đau họng, đau do ung thư: Dùng quả dâu chín ăn khoảng 20g quả để bổ dưỡng. Ép nước súc miệng chữa các chứng đau ở miệng, họng.

Phù thũng: Một nắm cành dâu băm nhỏ, đổ ngập nước đun còn một nửa bỏ bã, một lượng quả dâu chín bằng lượng cành nấu nhừ lọc bỏ bã cô đặc, thêm đường, ít rượu. Ngày uống 2 thìa canh, hòa nước cơm uống trước bữa ăn.

Chảy nước mắt (nước mắt tự nhiên chảy ra): Quả dâu 20g. Cà chua một quả. Đem nghiền nát. Ăn hết một lần. Ngày 1-2 lần. Đồng thời lấy lá dâu già chưa rụng nấu lấy nước rửa mắt hằng ngày.

Ăn không tiêu, trướng bụng, óc ách, tức thở: Quả dâu 10g, bạch truật 6g, sắc uống ngày 1 thang.

Hoạt huyết, dưỡng huyết thông kinh, chữa bế kinh do huyết ứ: Quả dâu 15g, hồng hoa 3g, kê huyết đằng 13g, rượu trắng 1 thìa con (15ml). Cho tất cả vào nồi nấu lấy nước bỏ bã. Ngày 1 thang, uống trong 5-7 ngày.

Ra nhiều mồ hôi, mồ hôi trộm: Quả dâu, ngũ vị tử mỗi loại 10g sắc kỹ, uống ngày 1 lần.

Bệnh mạch vành: Quả dâu 30g, câu kỷ tử 30g, gạo dính 15g. Nấu uống ngày 2 lần.

Viêm đa khớp dạng thấp: Quả dâu tươi 100g, rượu trắng (gạo hoặc nếp ngon). Dâu rửa sạch, giã nát gói vào túi vải ngâm vào rượu 3-5 ngày. Uống mỗi lần 20-25ml.

Viêm khớp nói chung: Quả dâu 250g, cành dâu 150g, chùm gửi dâu 100g. Ngâm rượu uống.

Đái tháo đường do can thận âm suy: Quả dâu 30g, thiên hoa phấn 20g, sinh địa 15g. Sắc uống ngày 1 thang.

Hoặc quả dâu tươi 1kg, gạo nếp 0,5kg, men rượu vừa đủ dùng. Giã nát dâu cho nếp vào nấu cùng thành cơm nếp, để nguội rắc men rượu, trộn đều cho lên men thành rượu cái. Ăn khai vị trước bữa cơm.

Viêm gan mạn tính, ung thư gan: Quả dâu tươi 500g, bột củ ấu 50g, mật ong 30ml. Ép dâu lấy nước cô đặc, trộn bột củ ấu và mật ong nấu chín. Dùng điều trị hỗ trợ ung thư gan bị huyết hư, miệng lưỡi khô, thần kinh suy nhược mất ngủ, táo bón.

Tràng nhạc: Trái dâu chín 500g, thục địa 200g (thái nhỏ) cho vào túi vắt lấy nước cô thành cao dùng mỗi lần một thìa với nước đun sôi, để nguội. Ngày 3 lần.

Quả dâu dùng ngoài

Tóc khô gãy rụng nhiều: Quả dâu chín đen giã nhuyễn, lấy cả nước và cái xoa xát lên đầu tóc.

Bỏng, vết thương chảy máu: Quả dâu rửa sạch, ép lấy nước, bôi, rửa, đắp.

Nấm, hắc lào: Quả dâu tươi 60g. Giã nát xát lên chỗ tổn thương.

Một số món ăn từ quả dâu

Quả dâu, đậu đen, rau cần lượng bằng nhau ninh nhừ ăn nóng, chữa rụng tóc.

Dâu hấp trứng: Mứt dâu 25g, trứng gà 2 quả, cùi đào 30g, mì chính, xì dầu, mỡ lợn. Tất cả đánh trộn đều hấp chín.

Dâu xào thịt: Dâu tươi 200g, thịt thăn lợn 300g, lòng trắng trứng gà 2 quả. Bột ướt, rượu, muối, mì chính, dầu lạc, gừng, hành, tỏi. Cách làm như sau: Dâu bỏ cuống, thịt thái miếng nhỏ, ướp muối, lòng trắng trứng đánh bột, tỏi băm, bắc chảo nóng, cho dầu, hành, tỏi cho thơm, cho các thứ vào xào. Khi thịt trắng thì cho dâu vào cùng mì chính, rượu, muối đảo chín.

Những tương kỵ khi dùng quả dâu

Chống chỉ định đối với các bệnh thuộc hàn chứng (vì quả dâu thuộc tính hàn) như sôi bụng, tiêu chảy. Theo sách xưa kỵ dùng dụng cụ kim loại.

BS. Phó Thuần Hương

Phân biệt nấm lành, nấm độc

Ngộ độc nấm chỉ xảy ra khi ăn các nấm mọc hoang dại, thường vào mùa xuân và hè và ở các vùng rừng núi. Loại nấm độc nhất là nấm lục (hay nấm độc xanh đen), có hình thức hấp dẫn nhất, ngộ độc nặng nề, diễn biến ngộ độc không thể lường trước được và là nguyên nhân tử vong của hầu hết các trường hợp ngộ độc nấm xảy ra hàng năm ở nước ta.

Theo dõi sức khỏe nạn nhân bị ngộ độc nấm tại Trung tâm Chống độc, Bệnh viện Bạch Mai. Ảnh: TM

Phân biệt nấm độc

Để phân biệt được nấm ăn được và nấm độc thì có nhiều kinh nghiệm cùng với các cơ sở nghiên cứu: Không ăn nấm sặc sỡ, có mùi hắc, không ăn nấm quá non hay quá già, không ăn nấm có chảy sữa... Tuy nhiên có rất nhiều trường hợp ngoại lệ, như có nấm độc có màu sắc và hình dạng giống nấm thường. Vì thế rất khó để có thể nhận biết được nấm an toàn và nấm độc nếu không có đủ kinh nghiệm và kiến thức, và lời khuyên tốt nhất là hãy coi tất cả nấm ở trong rừng là nấm độc và không nên ăn. Dưới đây là một số loại nấm độc nhưng có hình dạng giống nấm thường:

Nấm đen nhạt: Còn gọi là nấm xanh đen, nấm bìu. Loại này quả nấm thường có màu xanh ôliu hay xanh đen, phiến nấm màu trắng, cuống và vòng màu trắng, chân cuống nấm phình dạng củ. Thịt nấm mềm màu trắng, khi non có mùi thơm ngọt, già thì có mùi khó chịu. Nấm thường mọc đơn độc hoặc thành cụm ở trên mặt đất rừng hoặc bãi cỏ. Đây là loại nấm cực độc, chỉ khoảng 30g nấm (một miếng nhỏ bằng ngón tay út) cũng đủ giết chết một người trưởng thành.

Nấm đen nhạt.

Nấm tán trắng: Quả nấm màu trắng, đôi khi ở giữa có màu vàng bẩn, bề mặt khi thời tiết khô thì nhẵn bóng, khi trời ẩm thì ướt và dính. Phấn nấm màu trắng, đường kính khoảng 5 - 10cm, cuống và vòng cũng màu trắng, chân phình dạng củ. Loại này hay mọc ở ven rừng, ven đường hoặc trên bãi cỏ. Loại này cũng rất độc và đặc biệt là hình thức rất dễ khiến người ta nhầm. Đã có nhiều người ăn và tử vong vì loại nấm này.

Nấm tán trắng.

Nấm đỏ: Quả nấm có màu đỏ rực hay đỏ cam, màu sắc có thể nhạt dần sau mưa, có phủ những vảy màu trắng, đường kính từ 10 - 15cm, cuống và vòng màu trắng hoặc vàng, chân phình dạng củ, thịt nấm trắng không có mùi vị đặc biệt. Nấm mọc đơn độc hoặc thành cụm. Loại nấm này trông rất đẹp còn được gọi là nấm bay, nấm vũ trụ, có nơi còn gọi là nấm ruồi vì dùng làm bả diệt ruồi.

Nấm đỏ.

Biểu hiện ngộ độc nấm

Ngộ độc nấm gồm có biểu hiện sớm và muộn. Biểu hiện sớm thường xuất hiện sau khi ăn từ 30 phút đến 2 giờ, tối đa là 6 giờ và biểu hiện muộn xuất hiện sau khi ăn từ 6 đến 40 giờ, trung bình 12 giờ. Mức độ ngộ độc tùy thuộc vào các loại nấm. Dấu hiệu ngộ độc thường xuất hiện sau khi ăn nấm 20 - 30 phút. Nạn nhân thấy nôn nao, khó chịu, có khi đau bụng dữ dội hoặc nôn ra máu, đi ngoài nhiều lần, phân có mùi hôi tanh; người mệt nhừ, lạnh toát, có khi nổi mẩn đỏ; nếu nặng thì co giật, hôn mê. Các triệu chứng xuất hiện càng chậm thì mức ngộ độc càng nặng, có thể nguy hiểm đến tính mạng

Sơ cứu khi bị ngộ độc nấm

Khi có người có biểu hiện ngộ độc nấm cần nhanh chóng gây nôn (bằng biện pháp cơ học): Trong vòng vài giờ sau ăn nấm (tốt nhất trong giờ đầu tiên) nếu bệnh nhân là người trên 2 tuổi, tỉnh táo, chưa nôn nhiều. Cho bệnh nhân uống nước và gây nôn.

Uống than hoạt: Liều 1g/kg cân nặng người bệnh. Cho người bệnh uống đủ nước, tốt nhất là dùng oresol. Nhanh chóng đưa người bệnh đến cơ sở y tế gần nhất.

Nếu người bệnh hôn mê, co giật: Cho người bệnh nằm nghiêng. Nếu người bệnh thở yếu, ngừng thở: Hà hơi thổi ngạt hoặc hô hấp nhân tạo bằng các phương tiện cấp cứu có tại chỗ. Khi đã được điều trị tại cơ sở y tế không tự về nhà trong 1 - 2 ngày đầu kể cả khi các biểu hiện ngộ độc ban đầu đã hết.

Ngộ độc nấm loại biểu hiện muộn cần được điều trị tại các cơ sở y tế có phương tiện hồi sức tích cực tốt (thường tuyến tỉnh trở lên).

Phòng ngừa ngộ độc nấm

Để phòng ngừa ngộ độc nấm, không ăn nấm có màu sắc sặc sỡ, có mùi thơm hấp dẫn vì nấm này thường là nấm độc; không ăn các loại nấm hoang dại lúc còn non, vì lúc còn non chúng rất giống nhau (giống cúc áo), khó phân biệt; không ăn loại nấm khi cắt, vết cắt có rỉ ra chất trắng như sữa; không ăn nấm quá già, nấm có nghi ngờ, không rõ địa chỉ... Cũng có những loại nấm độc giống nấm ăn (nấm trồng), rất khó phát hiện nhưng nếu quan sát kỹ sẽ thấy gốc có bao và có vòng cổ.

Ngộ độc nấm rất nguy hiểm vì có thể gây tử vong hoặc nặng thì gây tiêu hủy hồng cầu, bạch cầu, tế bào thần kinh, tế bào gan..., chỉ cần vài nấm độc lẫn trong món ăn cũng có thể gây ngộ độc, thậm chí làm chết người. Do đó, biện pháp phòng tránh ngộ độc nấm trở nên rất quan trọng. Mọi người khi muốn ăn nấm cần tuân theo các nguyên tắc sau đây:

Chỉ ăn nấm khi biết chắc chắn đây là loại nấm ăn được, còn không biết thì tuyệt đối không được ăn. Ở các địa phương miền núi, khi ăn nấm nên hỏi rõ những người thực sự có kinh nghiệm để nhận biết nấm độc.

Nếu có điều kiện nên cho chó, mèo hay gà ăn thử nấm nếu thấy chúng có biểu hiện lạ hoặc bị chết thì tuyệt đối không ăn nấm. Không nên hái nấm quá non, khi chưa xòe mũ nấm, vì chưa thấy hết đặc điểm cấu tạo của nấm để xác định được rõ loài độc hay không.

Các địa phương cần thường xuyên tổ chức tuyên truyền để bà con có ý thức phòng ngừa ngộ độc nấm.

Bác sĩ Lâm Hùng

Trong khi dư luận vẫn chưa hết hoang mang trước việc 5 nạn nhân vì ăn canh nấm rừng mà nguy kịch xảy ra ngày 8/3, trong đó có 2 nạn nhân đã tử vong thì ngày 12/3, lại có thêm 5 nạn nhân nữa ở huyện Võ Nhai, Thái Nguyên cùng lúc nhập viện trong tình trạng nguy kịch cũng do ngộ độc nấm. Hiện các nạn nhân đang được cấp cứu tại Trung tâm Chống độc - Bệnh viện Bạch Mai (Hà Nội).

Cả 5 trường hợp mới nhập viện này cũng trong tình trạng ngộ độc nặng, nguy hiểm không kém các bệnh nhân trước.

Khẩn cấp nhập thuốc điều trị cho bệnh nhân ngộ độc nấmKhẩn cấp nhập thuốc điều trị cho bệnh nhân ngộ độc nấmThêm 1 người chết vì nấm độc, chuẩn bị ghép gan cho BN ngộ độc nấmThêm 1 người chết vì nấm độc, chuẩn bị ghép gan cho BN ngộ độc nấmNgộ độc nấm 80% là tử vongNgộ độc nấm 80% là tử vong

Dưỡng sinh ăn uống mùa đông

“Ăn” là việc không thể thiếu được trong đời sống thường ngày và cũng là một phương thức tốt nhất để phòng chống bệnh tật, giữ gìn sức khỏe, chăm sóc sắc đẹp và kéo dài tuổi thọ. Y học cổ truyền rất coi trọng việc ăn uống với ý nghĩa là nguồn cung cấp dinh dưỡng chủ yếu, là điều kiện tất yếu để duy trì mọi hoạt động sống của cơ thể. Vả lại, vào mùa đông, chức năng tiêu hóa của nhân thể rất tốt nên đây là dịp thuận lợi trong năm để bồi bổ sức khỏe.

Căn cứ theo ngũ vị để lựa chọn thức ăn cho phù hợp.

Ngũ vị là chỉ các vị: chua, đắng, ngọt, cay, mặn, phối hợp cùng với can (xuân), tâm (hạ), tỳ (trưởng hạ), phế (thu), thận (đông). Đông y cho rằng, các vị khác nhau thì tác dụng cũng không giống nhau.

Vị chua có tác dụng thu liễm, làm giảm bớt tiểu tiện, giữ mồ hôi, ngăn tiêu chảy.

Mùa đông đi tiểu nhiều, ăn đồ chua vừa phải có thể giảm bớt tiểu tiện, ví dụ như ăn cam quýt, ô mai, sơn tra ... Mùa đông, thận (thủy) làm chủ dễ khắc tâm (hỏa), tức là mùa đông tâm hỏa hư nhiều, vì vậy lúc này cần ăn nhiều vị đắng để bổ tâm. Ngoài ra, những chất dạng kiềm chứa trong các thực phẩm vị đắng có tác dụng tiêu viêm giải nhiệt, thúc đẩy tuần hoàn máu và làm giãn huyết quản.

Dưỡng sinh ăn uống mùa đôngMùa đông rất thích hợp cho việc tẩm bổ

Vị ngọt có tác dụng bồi bổ làm phòng chống co giật. Mùa đông giá lạnh, nên ăn thêm các thực phẩm có vị ngọt như: các loại đường, mật ong, mứt, nước uống ngọt... để cung cấp nhiệt năng, giúp cơ thể chống chọi lại với giá lạnh. Nhưng cũng không nên ăn quá nhiều vì dễ gây béo phì, làm trở ngại cho sự tiêu hóa của dạ dày và giảm cảm giác thèm ăn, thậm chí còn ảnh hưởng không tốt đến tim và thận.

Thực phẩm vị cay có tác dụng phát tán, hành khí, hoạt huyết... Phần lớn thực phẩm có vị cay thiên về tính nhiệt như: hành, gừng, tỏi, ớt, hạt tiêu, quế, hồi... khi dùng vào mùa đông có thể trừ hàn và kích thích tăng nhiệt lượng cho cơ thể.

Dinh dưỡng học cổ truyền còn cho rằng vị mặn có tác dụng bổ ích âm huyết, đào thải tán kết, làm mạnh tạng thận. Theo nguyên tắc “thu đông dưỡng âm”, mùa đông nên ăn nhiều thực phẩm vị mặn để bổ thận, ví dụ như: rau câu, sứa, rau tảo... Đương nhiên, cũng không thể quá lạm dụng các loại thức ăn mặn vì dễ làm tổn hại đến tạng tâm và cũng không có lợi cho tạng tỳ.

Mùa đông thích hợp cho tẩm bổ nhưng ăn uống nên thanh đạm

Mùa đông là mùa tốt nhất cho việc bổ dưỡng bằng ăn uống vì lúc này vạn vật tiềm ẩn, âm tinh và dương khí trong cơ thể cũng có xu hướng tiềm tàng, nếu bồi bổ thì dễ hấp thu và tích trữ, giúp cho thể chất được tăng cường. Vậy nên, dân gian có câu: “Mùa đông bồi bổ, mùa xuân giết hổ”. Bồi bổ tốt nhất là sau tiết Đông chí, sách Ẩm thiện chính yếu có nói: “Tiết đông lạnh, nên bổ dưỡng, lấy nhiệt trị hàn, không nên ăn đồ lạnh”. Sau này, “mùa đông tẩm bổ” trở thành câu ngạn ngữ trong dân gian.

Tuy nhiên, dù có tẩm bổ cũng nên tránh những đồ cao lương mỹ vị. Ăn uống thanh đạm là một trong những nguyên tắc của phép dưỡng sinh ẩm thực phương Đông. Sách Tố vấn nói: “Cao lương lạm dụng, có thể mọc đinh”, ý nói ăn nhiều đồ cao lương mỹ vị dễ bị bệnh ung nhọt. Sách Lã thị xuân thu viết: “Rượu ngon thịt béo, nên tự kiềm chế vì dễ bị bệnh đường ruột”. Sách Thiên kim dực phương cũng cho rằng: “Ăn uống quá nhiều, là hoạn cho mình, ăn uống nên thanh đạm tươi ngon, thay đổi khẩu phần theo tiết trời, nếu tham ăn nhiều tất sẽ sinh bệnh”. Danh y Chu Đan Khê trong Cách chí dư luận khuyên nên ăn ít thịt, dùng nhiều ngũ cốc, rau quả tự nhiên sẽ trung hòa được các vị. Dinh dưỡng học hiện đại đã chứng minh, chế độ ăn quá nhiều các chất béo động vật, chất đường dễ gây rối loạn lipid máu, làm tăng cholesterol từ đó gây ra tình trạng xơ vữa động mạch, là nền tảng phát sinh các bệnh lý nguy hiểm như: cao huyết áp, đau thắt ngực, nhồi máu cơ tim, tai biến mạch não, viêm tắc động mạch... với tỷ lệ tử vong và tàn phế rất cao.

Ăn uống nên tùy theo thể chất mỗi người

Thể chất của mỗi người khác nhau, âm dương suy thịnh, hàn nhiệt hư thực có sự khác biệt khá lớn, vì vậy ăn uống mùa đông phải tùy theo thể chất mỗi người mà điều chỉnh cho phù hợp. Người âm hư nên ăn nhiều thực phẩm bổ âm như: vừng, cơm nếp, mật ong, chế phẩm sữa, rau xanh, hoa quả, cá các loại... Người dương hư nên ăn nhiều thực phẩm bổ dương như: rau hẹ, thịt chó, thịt dê... Người khí hư nên ăn nhiều thực phẩm bổ khí như: nhân sâm, hạt sen, củ mài, đại táo. Người huyết hư nên ăn nhiều thực phẩm bổ huyết như: vải, mộc nhĩ đen, ba ba, gan dê, tiết động vật... Người dương thịnh nên ăn nhiều hoa quả, rau xanh, mướp đắng, kiêng các loại đồ ăn cay nhiệt như: thịt bò, dê và rượu. Người bị viêm tắc mạch máu nên ăn nhiều đào nhân, cải dầu, đậu đen... Người bị đờm ăn nhiều củ cải, rau tảo, sứa, hành tây, đậu cô ve, ngân hạnh... Người khí uất nên ít uống rượu, ăn nhiều phật thủ, cam, quýt, kiều mạch, hồi hương... Ăn uống cũng còn phải điều chỉnh theo nghề nghiệp. Người lao động trí óc nên ăn những thực phẩm bổ cho não như: hồ đào, vừng, rau kim châm, mật ong, chế phẩm đậu, nhân quả thông, hạt dẻ... Không nên ăn quá nhiều đường và mỡ động vật.

Mùa đông cũng nên ăn đồ lạnh với mức độ vừa phải

Theo phép dưỡng sinh ẩm thực cổ truyền, trong tiết đông giá lạnh, nếu có thể ăn một ít cơm nguội, rau nguội hay uống một ít nước sôi để lạnh thì không những không có hại mà còn có lợi cho sức khỏe bởi lẽ:

- Theo Y học cổ truyền, cơ thể con người, dù mùa hè hay mùa đông, luôn luôn có hiện tượng “tích nhiệt”. Mùa đông khí hậu tuy lạnh, nhưng do mặc nhiều quần áo, ngủ ấm, hoạt động ít, ăn nhiều đồ có năng lượng cao... nên cơ thể càng dễ tích nhiệt mà dẫn đến tình trạng “hỏa vượng”, nhất là ở hai tạng phế và vị. Vậy nên, uống lạnh một chút, chọn dùng ở mức độ vừa phải một số thực phẩm có tính hàn như: củ cải, các loại dưa, cua, ốc... là điều rất cần thiết.

- Mùa đông mọi người thích ăn những thứ nhiều dầu mỡ, nhiệt lượng cao, nhưng lại ít vận động nên dễ béo phì. Nếu ăn một chút đồ lạnh sẽ khiến cho cơ thể phải tự sưởi ấm, như thế sẽ làm tiêu hao bớt một lượng mỡ nhất định, có tác dụng phòng chống béo phì và bảo vệ sức khỏe.

- Nhiều nghiên cứu khoa học đã chứng minh, uống nước đun sôi để lạnh rất có lợi cho sức khỏe con người. Các nhà khoa học khuyến cáo rằng, uống một cốc nước lạnh vào một giờ nhất định trong ngày là phương pháp dưỡng sinh bảo vệ sức khỏe đơn giản mà hữu hiệu nhất. Đặc biệt là vào buổi sáng, khi thức dậy uống một cốc nước sôi để nguội có thể làm tăng cường khả năng giải độc của gan và bài tiết của thận, thúc đẩy quá trình trao đổi chất, tăng cường khả năng miễn dịch, điều hòa huyết áp và phòng ngừa tích cực bệnh nhồi máu cơ tim.

ThS. HOÀNG KHÁNH TOÀN

Hà Tĩnh: Triển khai chiến dịch uống Vitamin A đợt 2 cho trẻ

Trung tâm y tế dự phòng tỉnh đã cấp 131.500 viên hàm lượng 200.000UI và 50.000 viên hàm lượng 100.000UI. Đối tượng trẻ được uống trong đợt này: trẻ từ 6 đến 60 tháng tuổi; trẻ dưới 5 tuổi có nguy cơ cao (trẻ bị suy dinh dưỡng nặng, tiêu chảy kéo dài, viêm đường hô hấp, trẻ bị nhiễm sởi) và bà mẹ sinh con trong vòng 01 tháng.

Đối với trẻ từ 6 đến 12 tháng tuổi uống hàm lượng 100.000UI; trẻ từ 12 đến 60 tháng tuổi uống hàm lượng 200.000UI. Theo đó sẽ có trên 100.000 trẻ và bà mẹ sau sinh trong vòng một tháng sẽ được uống vitamin A. Thời gian cho trẻ uống Vitamin A đợt 2 được triển khai từ ngày 01 đến 31/12/2017.

Theo các chuyên gia tại Viện dinh dưỡng Quốc gia, Bộ Y tế thì Vitamin A đóng vai trò hết sức quan trọng trong quá trình tăng trưởng và phát triển toàn diện của trẻ. Đây là loại vitamin tham gia vào việc tạo ra các mô, da, võng mạc ở mắt, giúp bảo vệ thị giác, hỗ trợ hệ miễn dịch của cơ thể, đặc biệt là đối với cơ thể trẻ nhỏ từ 6 - 60 tháng tuổi.

Nếu thiếu vitamin A, trẻ sẽ bị giảm thị lực, gây khô da ở màng tiếp hợp, giác mạc, nặng hơn sẽ làm thủng giác mạc và dẫn đến mù lòa. Ngoài ra, thiếu vitamin A còn làm giảm sức đề kháng của cơ thể trẻ với bệnh tật, dễ bị nhiễm khuẩn đường hô hấp, ảnh hưởng đến sự phát triển của trẻ nhỏ.

Vì thế, cần bổ sung vitamin A cho trẻ như đưa trẻ đi uống vitamin A theo định kỳ cũng như chú ý đến chế độ dinh dưỡng, cho trẻ ăn các thực phẩm có nguồn gốc động vật như gan, thịt, cá, trứng, sữa… trong các loại củ, quả có màu vàng, màu đỏ như cà rốt, bí đỏ, đu đủ, xoài… và đặc biệt là trong các loại rau xanh như rau dền, rau muống, rau ngót…

Ngoài ra, cần chú ý bổ sung thêm chất béo, dầu mỡ vào khẩu phần của trẻ. Do vitamin A là loại vitamin tan trong dầu nên khẩu phần ăn thiếu dầu mỡ sẽ làm giảm khả năng hấp thụ vitamin A của cơ thể.

Thanh Loan

Ăn nhiều đường sẽ làm tăng huyết áp

Hệ luỵ của đường

Kiểm soát bệnh tăng huyết áp được cho là nhiệm vụ trọng tâm của ​​y tế công cộng và cách tiếp cận chế độ ăn uống để giải quyết cơntăng huyết áp đã từng được tập trung chủ yếu vào lượng natri (muối) hấp thụ vào cơ thể. Tuy nhiên, các nghiên cứu chỉ ra rằng việc giảmhuyết ápbằng cách hạn chế ăn muối là rất mong manh. Hơn nữa, thực phẩm chế biến sẵn không chỉ có muối mà còn có các thành phần tinh chế lớn từ các loại đường và các loại tinh bột khác nhau.

Các bằng chứng khoa học từ các nghiên cứu dân số và các thử nghiệm lâm sàng liên quan đến đường là rất thuyết phục. Chúng chỉ ra rằng đường đóng vai trò chính trong sự phát triển của chứng tăng huyết áp. Hơn nữa, các bằng chứng này còn cho thấy đường nói chung và fructose nói riêng có thể góp phần tăng các rủi ro tim mạch. Khi nói đến đường, ít nhất chúng ta cần hiểu một cách khái lược nhất về glucose và fructose. Cơ thể chúng ta có khả năng sản xuất ra glucose và mỗi tế bào trên bề mặt trái đất đều chứa glucose bên trong.Nó là một phân tử vô cùng quan trọng trong cuộc sống.Tuy nhiên fructose thì không như vậy. Cơ thể chúng ta không sản xuất fructose và trong lịch sử tiến hóa cũng không bao giờ tiêu thụ nó, ngoại trừ các loại quả chín theo mùa.

Sự khác biệt lớn nhất của hai loại đường này đó là: Khi mọi tế bào trong cơ thể đều có thể sử dụng glucose thì chỉ có gan là cơ quan duy nhất có khả năng chuyển hóa một lượng fructose nhất định. Nếu chúng ta ăn nhiều các chế phẩm có nhiều fructose (là chất làm ngọt phổ biến nhất trong các thực phẩm chế biến, đặc biệt là nước trái cây và nước ngọt), gan sẽ phải làm việc quá tải và chuyển hóa chúng thành chất béo. Đây cũng chính là nguyên nhân gây bệnh béo phì, tiểu đường tuýp 2, tim mạch và thậm chí cả ung thư.

Người có tiền sử huyết áp nên thường xuyên theo dõi huyết áp tại nhà

Người có tiền sử huyết áp nên thường xuyên theo dõi huyết áp tại nhà

Đường ảnh hưởng tới huyết áp như thế nào?

Khi lượng đường được ăn nhiều hơn sẽ làm tăng đáng kể huyết áp tâm thu (6,9 mm Hg) và huyết áp tâm trương (5,6 mm Hg). Theo nghiên cứu, những ai ăn nhiều calo (từ 25% calo trở lên) sẽ tăng nguy cơ tử vong do bệnh tim mạch gấp 3 lần.

Mức tiêu thụ đường bình quân đầu người hiện nay cao gấp từ 2 đến 8 lần so với khuyến cáo của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), do thói quen ăn uống các chế phẩm ăn nhanh và làm sẵn. Xét đến thanh thiếu niên cụ thể, mức tiêu thụ hiện tại có thể cao gấp từ 6 đến 16 lần.

Fructose – từ sản phẩm sinh học tự nhiên (trái cây) có lợi cho cơ thể.

Fructose – từ sản phẩm sinh học tự nhiên (trái cây) lại không gây hại mà rất có lợi cho cơ thể.

Việc lạm dụng quá mức fructose do ăn uống là một cơ chế có khả năng làm tăng nhịp tim, nồng độ muối trong thận và sức đề kháng của mạch máu… Tất cả những điều này đều có thể tương tác làm tăng huyết áp và tăng nhu cầu về oxy cơ tim.

Tuy nhiên, ăn đường - bao gồm cả fructose – từ sản phẩm sinh học tự nhiên (trái cây) lại không gây hại mà rất có lợi cho cơ thể.

Người béo phì có nguy cơ bị huyết cao

Người béo phì, có nguy cơ bị huyết cao, cao gấp từ 2 đến 6 lần so với những người gầy.

Theo tiến sĩ James DiNicolantonio, Mỹ, việc giảm tiêu thụ đường bằng cách hạn chế các thực phẩm chế biến có chứa chúng nên được thực hiện trước tiên ngay ở các công ty chế biến thực phẩm thông qua tuyên truyền và tập huấn kiến thức sức khỏe. Nhiều bằng chứng cho thấy rằng ngay cả khi dùng một lượng đường vừa phải trong khoảng thời gian ngắn cũng có thể gây ra những tác động xấu với cơ thể.

Uống thường xuyên các đồ uống có đường như soda, cola, các đồ uống ngọt có ga… có thể dẫn đến hiện tượng lão hóa sớm các tế bào miễn dịch, khiến cơ thể dễ bị bệnh mạn tính tương đương với ảnh hưởng của việc hút thuốc lá.

Mai Hương - Học viện Quân y

(Theo Medicalnewstoday.com)